Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Ngày 10/11/2025 Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 207-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 22/01/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Kết luận số 207-KL/TW); Kết luận số 210-KL/TW, ngày 12/11/2025 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới (Kết luận số 210-KL/TW).
Ban Xây dựng Đảng xã Đại Từ xây dựng các nội dung tuyền truyền trọng tâm như sau:
I. KẾT LUẬN SỐ 207-KL/TW, NGÀY 10/11/2025 CỦA BAN BÍ THƯ VỀ TIẾP TỤC THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 30-CT/TW, NGÀY 22/01/20219 VỀ TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
Sau hơn 5 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 22/01/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếu kém. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên một phần do một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước chưa quyết liệt, chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, vai trò, ý nghĩa của công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong một số khâu chưa được phân định rõ ràng, chưa thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu…

(Ảnh: TTXVN)
Một số nhiệm vụ trọng tâm sau nêu trong kết luận đó là:
1. Khẩn trương rà soát, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, định hướng mới của Đảng vào hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan:
Nhằm bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả, khắc phục triệt để những khoảng trống pháp lý, đáp ứng xu thế phát triển hiện đại, số hóa và hội nhập quốc tế.
Tập trung rà soát, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp xã, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trên cơ sở đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp với năng lực triển khai của mỗi cấp, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường số, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn thông tin của người tiêu dùng;
Quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo đảm truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa nhằm minh bạch hóa thị trường, nhất là trong phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân; phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, kém chất lượng...
Tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý; phát huy vai trò giám sát, cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng cấm,...của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, người dân; xây dựng cơ chế hỗ trợ, tiếp nhận và giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh theo hướng nhanh gọn, thuận tiện; rà soát, điều chỉnh các quy định chế tài, hình phạt, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi cố tình sản xuất, buôn lậu hàng giả, hàng nhái, hàng không đáp ứng yêu cầu chất lượng với quy mô lớn, ảnh hưởng sức khỏe, tính mạng người dân, bảo đảm tính răn đe, giáo dục cao.
2. Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được thực hiện công bằng, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
Các bộ, ngành, địa phương chủ động, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng phù hợp với tình hình thực tiễn tại đơn vị, địa phương.
Rà soát, hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm liên ngành giữa các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc kiểm soát hàng hóa lưu thông trong nước, nhập khẩu từ ngoài nước nhằm phòng ngừa, cảnh báo kịp thời vi phạm pháp luật.
Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm; trong đó, tập trung điều tra, xử lý nghiêm hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, sản phẩm, dịch vụ không bảo đảm an toàn, cung cấp thông tin sai lệch, gian dối, gây nhầm lẫn, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, áp đặt điều khoản không được phép, gây bất lợi cho số lượng lớn người tiêu dùng thông qua hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
3. Phát huy vai trò các tổ chức xã hội và doanh nghiệp; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Tạo điều kiện, xây dựng cơ chế đặc thù để các hội bảo vệ người tiêu dùng tham gia tích cực vào công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Tạo điều kiện thuận lợi để người tiêu dùng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và phát huy sự chủ động trong hoạt động bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, lấy người tiêu dùng làm trung tâm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hướng tới sản xuất, tiêu dùng xanh.
Tập trung nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong công tác thông tin, tư vấn, giải quyết tranh chấp cho người tiêu dùng.
Hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xây dựng, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động chăm sóc khách hàng; truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; minh bạch hóa thị trường hàng hóa, dịch vụ; phân tích đánh giá xu hướng tiêu dùng trong thời đại số.
4. Đẩy mạnh hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, hợp tác, phối hợp trong xử lý vụ việc tranh chấp tiêu dùng xuyên biên giới; tăng cường phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong giao dịch với người tiêu dùng.
5. Đổi mới công tác tuyên truyền
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và toàn dân trong công tác quản lý, giám sát, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, thúc đẩy hiệu quả Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".
Tuyên truyền về quyền lợi, trách nhiệm của người tiêu dùng, hướng tới thay đổi nhận thức, hành vi, thói quen trong tiêu dùng của người dân để góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng.
Đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cho từng nhóm đối tượng người tiêu dùng khác nhau, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số; ưu tiên các nhóm người tiêu dùng yếu thế, dễ bị tổn thương.
Phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp, làng nghề truyền thống trong việc tuyên truyền các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ
II. KẾT LUẬN SỐ 210-KL/TW, NGÀY 12/11/2025 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII VỀ TIẾP TỤC XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI GIAN TỚI.
Bối cảnh tình hình: Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, với tầm nhìn chiến lược, định hướng lâu dài về mô hình tổng thể của hệ thống chính trị, với quyết tâm chính trị, nỗ lực cao nhất và phương pháp tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, nhất quán, khẩn trương, công khai, dân chủ, kiên định mục tiêu, yêu cầu đề ra; bảo đảm đúng các nguyên tắc, Điều lệ Đảng, quy định của Hiến pháp, pháp luật, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, thực hiện có hiệu quả, hoàn thành vượt mức trước 5 năm các mục tiêu do Nghị quyết số 18-NQ/TW đề ra đến năm 2030, tạo bước ngoặt quan trọng về triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng trong tình hình mới.
Kết quả nổi bật đạt được đó là: (1) Hệ thống tổ chức, các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương đến địa phương được tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; giảm cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương, cấp tỉnh, đầu mối bên trong và biên chế với quy mô lớn, góp phần tiết kiệm chi thường xuyên rất lớn, tăng chi đầu tư phát triển và an sinh xã hội. (2) Thực hiện tổ chức bộ máy theo mô hình mới đồng thời với việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã; tổ chức lại hệ thống Quân đội, Công an (ở địa phương), Thanh tra, Tòa án, Viện Kiểm sát; các cơ quan, đơn vị quản lý theo ngành dọc; sắp xếp các tổ chức đảng ở địa phương đồng bộ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị; sắp xếp các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc các cấp. (3) Ban hành đồng bộ các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan, tổ chức và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn.
Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã được triển khai tổng thể, triệt để và đồng bộ trong cả nước với quy mô lớn. Giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương, 100% đảng đoàn, ban cán sự đảng; giảm 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% đơn vị hành chính cấp xã; lần đầu tiên kể từ năm 1945, chúng ta giảm một cấp hành chính (không tổ chức cấp huyện), thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Những kết quả đạt được trong thời gian qua đã khẳng định sự đột phá, đổi mới tư duy cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, thực sự là cuộc cách mạng, "sắp xếp lại giang sơn"; tổ chức lại, mở rộng không gian phát triển của đất nước, kiến tạo mô hình phát triển mới mang tính chiến lược, dài hạn.
Sau sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đơn vị hành chính địa phương, đời sống của Nhân dân được cải thiện rõ rệt; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc; kinh tế-xã hội phát triển, tăng trưởng GDP năm 2025 của nước ta ước đạt 8% (cao nhất trong 10 năm qua), tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo.
Kết quả cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cho thấy đây là một chủ trương rất đúng, rất trúng, có ý nghĩa lịch sử, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao;
Tuy nhiên, việc thực hiện đồng thời sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã trên quy mô lớn, không tổ chức cấp huyện và thay đổi phương thức làm việc, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong thời gian đầu còn gặp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến năng lực, trình độ của cán bộ cấp cơ sở, điều kiện hạ tầng trang thiết bị, trụ sở... phần nào đã ảnh hưởng đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp tại một số nơi.
Nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới:
1. Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền
Tăng cường và giữ vững đoàn kết nội bộ, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp xã sau khi hợp nhất. Tích cực tuyên truyền tấm gương cán bộ, đảng viên tiêu biểu trong việc thực hiện công tác sắp xếp tổ chức bộ máy.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền sâu rộng về kết quả cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, hoạt động của các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, về mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong thực thi nhiệm vụ, phục vụ Nhân dân, định hướng, kiến tạo phát triển địa phương, đất nước.
Đẩy mạnh sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2. Về hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính
Tập trung cao nhất các nguồn lực để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị để phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ các ban, cơ quan của Đảng, các đảng bộ trực thuộc Trung ương mới thành lập theo hướng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu quả; phân cấp, phân quyền đi kèm kiểm soát; xóa cơ chế "xin-cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính bảo đảm hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm tinh gọn về quy trình, cắt giảm mọi thủ tục không cần thiết, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính, chuẩn hóa, số hóa hồ sơ, dễ làm, dễ kiểm tra, dễ giám sát, phù hợp với trình độ, năng lực cán bộ, yêu cầu thực tiễn khi vận hành tổ chức bộ máy mới.
Tiếp tục tăng cường, hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, nhất là việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Kiểm tra, đánh giá các nhiệm vụ của bộ, ngành, của địa phương đang triển khai ở cấp xã, phường để có hướng dẫn, chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản của Đảng, các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng theo mô hình mới. Xây dựng cơ chế phối hợp linh hoạt, hiệu quả giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội tập trung cho cơ sở, gắn bó với đoàn viên, hội viên, đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng của Đảng.
Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan thanh tra, điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc các cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là nơi hợp nhất, sáp nhập và cấp xã, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ tài chính công theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, đặc điểm riêng của địa phương.
3. Về sắp xếp tổ chức bộ máy; quản lý cán bộ, công chức, viên chức
Tập trung xây dựng các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương thực sự là hạt nhân trí tuệ, là "bộ tổng tham mưu", đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, 2 viện hàn lâm khoa học xã hội và khoa học công nghệ, trường học, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước theo đúng định hướng của Trung ương, phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa bàn.
Khẩn trương hoàn thành sắp xếp lại đầu mối bên trong cơ quan Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng các cấp do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ...
Sắp xếp các thôn, tổ dân phố ở xã, phường và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới.
Khẩn trương thực hiện hiệu quả, đồng bộ thể chế về công tác cán bộ; đặc biệt tập trung triển khai nghiêm các quy định mới ban hành, nhất là trong đánh giá, đào tạo, sử dụng cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí, gắn với sản phẩm cụ thể, theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh; coi trọng uy tín trong Đảng và tín nhiệm trong Nhân dân; theo đúng chủ trương "có vào có ra", "có lên có xuống".
Triển khai Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; nghiên cứu cơ chế tạo sự liên thông giữa khu vực công và khu vực tư; phát hiện, tuyển chọn, đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc, cán bộ khoa học, kỹ thuật có tiềm năng phát triển.
Rà soát, xây dựng và hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cơ sở để xác định biên chế tổng thể của hệ thống chính trị giai đoạn 2026-2031; bố trí, sắp xếp số lượng lãnh đạo cấp phó phù hợp, bảo đảm đến hết năm 2030 số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện đúng quy định.
Bố trí đủ nguồn lực, tổ chức đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản trị (cả về quản trị dữ liệu) để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị đủ năng lực vận hành tổ chức bộ máy sau sắp xếp từ Trung ương đến địa phương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ rất cao trong giai đoạn phát triển mới; thực hiện cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp phù hợp với yêu cầu thực tiễn về sắp xếp, tổ chức lại bộ máy và tinh giản biên chế.
Tập trung xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số, bình dân học vụ số theo chỉ đạo của Trung ương; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và liên thông với dữ liệu quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông từ cấp tỉnh đến cấp xã; tổ chức một cửa liên thông số, kết nối dân cư-đất đai-an sinh-doanh nghiệp
4. Công tác kiểm tra, giám sát
Chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm trong hoạt động quản lý nhà nước; tổ chức kiểm toán nội bộ ở cấp tỉnh, cấp xã; các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, ban, bộ, ngành, địa phương thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các quy định mới về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, kịp thời phát hiện, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn.
Đây là nội dung cốt lõi của Kết luận số 207-KL/TW và Kết luận số 210-KL/TW, xã Đại Từ thông tin tới các cơ quan, tổ chức, các chi bộ, cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân trên địa bàn xã cùng quan tâm./.